Hãng dầu ValvolineHãng dầu ORYXHang Mobil 1Valvoline GirlsCastrolGirls ValvolineMotul
Sản phẩm bán chạy
Thống kê truy cập
Tin tức sự kiện

Kiến thức nhóm dầu gốc 1,2,3

Kiến thức nhóm dầu gốc 1,2,3
Tại Việt nam không phải tất cả các hãng dầu nhớt đều thực hiện đúng khuynh hướng này và sự cam kết chất lượng đến người sử dụng với hiểu biết của mình. Và người tiêu dùng vẫn phải trả giá cao để mua hàng chất lượng không phù hợp hay do những chiến dịch quang cáo/marketing đã in dấu nhãn hiệu vào tâm thức của người tiêu dùng với kiểu mua hàng DIFM (Do it for me ­ phó thác cho người bán).

 

Dầu gốc (Base oil) Sự ảnh hưởng của tiêu chuẩn khí thải Châu Âu đối với Dầu nhớt và khuynh hướng sử dụng Dầu nhớt đa cấp có độ nhớt thấp với quan điểm tiết kiệm nhiên liệu của các nhà chế tạo động cơ (OEMs) đã thay đổi việc sử dụng Dầu gốc (Base Oil) cũng như công nghệ sản xuất Dầu gốc phù hợp. Việc thay đổi định hướng sử dụng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế trong sản xuất Dầu nhớt mà đặc biệt là dòng Dầu nhớt cho động cơ. Trước đây, được xem như là "xương sống" của công nghệ Dầu nhớt với số lượng được sản xuất rất lớn.
Từ Dầu nhớt cho động cơ có kích thước nhỏ đến lớn đều xoay quanh những tính chất của Dầu gốc nhóm I và phụ gia tăng cường tính hoá lý. Năm 1994, Chervon giới thiệu lần đầu tiên công nghệ Dầu gốc ISODEWAXING để sản xuất các phân đoạn Dầu gốc nhóm II(2) và nhóm III (3) với tính chất kỳ diệu được so sánh gần ngang bằng với Dầu gốc tổng hợp Polyalphaolefine (PAO) về các tính chất : Chỉ số độ nhớt (Viscosity Index) (4) rất cao và Điểm đông đặc (Pour point) (5) rất thấp. dầu gốc nhóm I(1) Từ khi xuất hiện dầu gốc nhóm II và nhóm III, việc sản xuất Dầu nhớt cho động cơ với tiêu chuẩn cao hơn về khí thải (hàm lượng lưu huỳnh (Sulfur) thấp và độ bay hơi rất thấp (Noack)); khái niệm Dầu nhớt tiết kiệm nhiên liệu ra đời với các nghiên cứu Dầu nhớt đa cấp có độ nhớt thấp và đáp ứng các tiêu chuẩn của Nhà thiết kế chế tạo động cơ (OEMs). Có nghĩa là các ứng dụng Dầu gốc của 2 nhóm này sản xuất Dầu nhớt với tiêu chuẩn cao hơn về đặc tính bôi trơn bảo vệ động cơ và về môi trường.

Khuynh hướng sau cho việc sử dụng Dầu gốc phù hợp tiêu chuẩn cho sản xuất Dầu nhớt. Thông dụng để sản xuất Dầu động cơ có Độ nhớt SAE 10W­XX(6) hay 15W­XX; hiện nay chiếm 85% Dầu nhớt Động cơ Diesel ở Châu Âu. Đặc tính của nhóm Dầu gốc này là có Độ nhớt động học cao có thể pha chế dầu động cơ Diesel tải nặng (Heavy Duty Diesel Oil) là loại dầu đòi hỏi độ bền của màng dầu bôi trơn cao (hay lớp film dầu giữa 2 bề mặt kim loại bền) do vận hành ở nhiệt độ cao (HTHS­ High Temperature/High Shear) ở tốc độ thấp nhưng moment xoắn rất cao.

Loại Dầu gốc này quan trọng với hàm lượng Lưu huỳnh và hợp chất thơm đa vòng gần như không có nên có tính ổn định oxy hoá và bền nhiệt cao được pha với công thức Low/Medium SAPS(7). Dầu gốc nhóm II: Tiêu chuẩn API thônng thường áp dụng là CI­4, CJ­4.(8) : Thông dụng sản xuất Dầu nhớt động cơ có Độ nhớt SAE 5W­XX hay 0W­XX, hiện nay sử dụng hầu hết cho động cơ xăng (gasoline) nhóm xe tải nhẹ và xe hơi với tốc độ cao. Một lưu ý là rất rủi ro khi sử dụng Độ nhớt thấp SAE 0W­XX vì tính bôi trơn ngoại biên (boundary lubricity) có thể xuất hiện gây mài mòn chi tiết chuyển động. Thông thường hay sử dụng SAE 5W­XX hơn theo khuyến cáo của OEMs. Đặc tính độ nhớt động học rất thấp, Chỉ số độ nhớt cao nên trước đây nhà sản xuất có thể pha chung Dầu gốc Nhóm III vào Nhóm I để cải thiện tính ổn định oxy hoá và chống bay hơi của Nhóm I khi sản xuất dầu động cơ. Dầu gốc nhóm III Tiêu chuẩn thông thường áp dụng : API SJ, SL, SM, SN...(9) Dầu gốc nhóm I: Hiện nay được sử dụng nhiều cho Dầu Công nghiệp, Dầu động cơ hàng hải hay Dầu động cơ có tiêu chuẩn ACEA(10) "thấp"­động cơ thế hệ cũ. Đặc tính độ nhớt hàng hải hay Dầu động cơ có tiêu chuẩn ACEA(10) "thấp"­động cơ thế hệ cũ. Đặc tính độ nhớt động học cao nên dễ dàng pha chế các loại dầu từ : Dầu cắt gọt kim loại, đến dầu xy lanh hay động cơ hàng hải, tàu thuỷ hay các loại dầu truyền động hay trợ lực tay lái....

Theo phân tích trên thì để sản xuất Dầu nhớt phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế xem ra không phải đơn giản vì: yếu tố kỹ thuật, nguồn cung cấp dầu gốc, sự quản lý cung ứng,..Do đó, tại Việt nam không phải tất cả các hãng dầu nhớt đều thực hiện đúng khuynh hướng này và sự cam kết chất lượng đến người sử dụng với hiểu biết của mình. Và người tiêu dùng vẫn phải trả giá cao để mua hàng chất lượng không phù hợp hay do những chiến dịch quang cáo/marketing đã in dấu nhãn hiệu vào tâm thức của người tiêu dùng với kiểu mua hàng DIFM (Do it for me ­ phó thác cho người bán).
 
^ Về đầu trang